Sông Gianh mẹ tôi!
Cũng giống như tình cảm người dân Ấn Độ với sông Hằng.
Trong trái tim tôi, sông Gianh là người mẹ Vĩ đại.
Sông Gianh đẹp nao lòng, lúc hào phóng, rộng rãi, mênh
mang sông nước xanh thẵm, lúc lòng vòng, ngoằn nghoèo, eo thắt, khúc
khuỷu, thác gềnh, lúc băng qua đồng bằng thôn xóm thanh bình, lúc tựa vào
trường sơn hùng vĩ, núi đá lô xô, rồi luồn lách qua các hang động kì bí, rồi
xuất hiện với những thác nước tung bọt trắng xóa, như bầy trẻ chơi trò trốn
tìm, đưa du khách những cung bậc cảm xúc đến tột cùng.
Sông Gianh mang dáng vóc của một người Mẹ, bởi
sông rất hiền, tần tảo và chung thủy suốt đời với rừng núi quê hương Quảng Bình
(hiếm có con sông nào mà đầu nguồn cuối nguồn đều trong một tỉnh). Dáng sông
uốn lượn như dải lụa mềm, xanh lam nền nã. Sông tải muôn hạt phù sa quý giá bồi
đắp những cánh đồng làng mạc ven sông từ Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch
quê tôi. Thương những người dân vạn chài, không một tấc đất nương thân,
Sông vồng lên thành cồn thành bãi che chở dân đen. Sông cung cấp cát cho ta xây
nhà, con cá, con tôm, con cua nuôi ta khôn lớn. Thượng nguồn sông cho ta làm
du lịch, nước ngọt tưới mát vườn tược và cánh đồng. Hạ nguồn ngư dân, diêm
dân làm muối và nuôi trồng thủy, hải sản.
Miền Trung đất hẹp và nghèo. Như người mẹ thương con
phải nhiều đường góp nhặt. Sông phải chia nhiều nhánh nhiều nguồn. Nguồn Son
gọi là sông Son, nguồn Cao Mại gọi là sông Nan, nguồn Minh Hóa gọi là sông Nậy
Sông Nậy – Nơi xuất phát là ngã ba cửa Hác,
không biết tự bao giờ đã có câu “ăn cơm cho no/chờ đò cửa Hác”. Bởi cửa Hác là
một ngã ba sông rộng, nơi hợp lưu của ba sông nhỏ là sông Nan, sông Son và sông
Nậy đổ về, nên đây là nơi rộng nhất của sông Gianh. Thuở chưa có cầu Quảng Hải,
muốn qua Ba Đồn, người dân 9 xã vùng Nam QT, phải hoặc qua đò Phú Trịch, hoặc
qua đò cửa Hác. Đò cửa Hác qua Ba Đồn rộng tới cả cây số, nếu thuận gió
thì chúng tôi được đi thuyền buồm, bằng không thì thuyền chèo bằng tay bởi hai
bác lực điền dân Quảng Hòa, ngồi ê ẩm cả hơn tiếng đồ hồ, đò mới qua bến Ba
Đồn, thị trấn huyện lỵ của huyện Quảng Trạch, địa danh này có từ lâu đời, nghe
đâu từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh... trải qua hai chuộc chiến tranh, Ba Đồn
chỉ còn một đống hoang tàn. Khi tôi lớn lên, cái ấn tượng về Ba Đồn là những
con đường cấp phối, mùa hè thì bụi đỏ lừ cuộn lên khi chiếc xe tải, hay xe
comaka chạy qua. Những đồi cát trắng, những ngôi nhà ngói cấp bốn của cơ quan
huyện, còn nhà dân thì đang lụp xụp lắm. Có lẽ chổ văn minh nhất và cũng khác
biệt so nông thôn là cái tiệm chụp hình ở góc chợ. Những nam thanh nữ tú nông
thôn sang Ba Đồn, việc đầu tiên là ghé vào tiệm ảnh chụp vài kiểu, rồi muốn đi
đâu thì đi, hình chụp hồi đó chỉ toàn là đen trắng, người ta có thể dùng màu
xanh đỏ, tím ,vàng, tô lên, dĩ nhiên người thợ phải có chút năng khiếu về thẩm
mỹ. Hồi đó Ba Đồn đã có điện, nhưng điện chỉ sử dụng thắp sáng những bóng đèn
tròn thủy tinh, dân chúng chưa có quạt, tivi, tủ lạnh.. dù vậy Ba Đồn cũng dáng
dấp phố thị rồi. Mãi tới khi đã học đến lớp 6 (hệ 10/10) tôi mới được sang chơi
Ba Đồn. Y như nhân vật N!xau trong phim “Thượng đế cũng phải cười” , cái vật thể lạ mà tôi chú ý quan
sát, là một chiếc thùng vuông xịt khói đen, gầm gừ, có bốn bánh chạy được, ấy
là chiếc ô tô tải, lần đầu tiên tôi trông thấy.
Ba Đồn cũng là nơi sinh ra và lớn lên của nhà văn
Nguyễn Quang Lập mà có lẽ cái tính cách con người được hun đúc bởi tình trữ
tình, phóng khoáng, bạt ngàn của ngã ba sông Gianh. Rát bỏng, trắng tinh và dữ
dội của cát trắng, mộc mạc, lam lủ chân chất của một vùng quê nghèo.
Cửa Hác phảng phất dáng vẻ đẹp hào phóng của
miền Tây Nam bộ, với những rặng bần, rặng mắm sum xuê cành lá, nhưng đậm sắc
thái miền Trung, với màu xanh cồn cào của sóng, nước và chất mặn mòi của biển
khơi. Phía bên phải là xã Quảng Văn, một dải cồn khá lớn, bao bọc quanh là sông
nước. Ngoài nghề cày cấy, Quảng Văn có nghề đan mây xuất khẩu. Nghề may nón chủ
yếu là phụ nữ và con nít. Con gái La Hà – Quảng Văn mặc dù nắng nóng, gió biển
thổi tứ bề ấy vậy mà da trắng và đẹp nổi tiếng, siêng năng, tần tảo. Việc bán
nón là công việc nặng nhọc của đàn ông, họ cũng thách giá, mời chào,
tranh giành khách, không kém cạnh các bà dân chợ. Nên mới có câu: “đàn ông La
Hà/ Đàn bà Minh Lệ”. Thuở đi học cấp ba, có thầy dạy tiếng Trung Quốc, quê La
Hà. Mấy đứa học trò con gái cứ nói câu đó ghẹo thầy, bị thầy cho ăn thước mét.
Chếch hướng Tây Bắc là làng Quảng Phong. Làng nằm sát
ngay bờ sông, nên hứng đủ sự cuồng phong của bão tố, sự giận hờn của sông
Gianh. Làng thông thống bốn bề gió hú, y như tên gọi. Quảng Phong bây giờ đã là
một phường của thị xã BĐ, nhà cửa khang trang quy cũ
Vâng! cũng xin khẳng định: chắt chắt là
một báu vật, một “lộc trời” mà chỉ riêng sông Gianh Quảng Bình mới có.
Chắt chắt
ở Quảng Bình không giống như nhiều loại hến hàu… ở nơi khác, chắt chắt Quảng
Bình là nhuyễn thể rất sạch, chỉ sống ở cát thượng nguồn, nơi giao thoa
của nước mặn và nước ngọt, không ô nhiễm kim loại nặng, hay các hóa chất độc
hại khác. Thịt chắt chắt thơm, ngọt lừ, xào lên xúc bánh tráng, thì cứ gọi là
thiên đường chính ở đây!
Sông Son là một nhánh sông song sinh cùng Sông Nan,
điểm xuất phát là ngã ba Chợ Mới, thuộc xã Quảng Minh, cảnh vật ven sông thật
ngọan mục và tráng lệ, thanh bình soi bóng những lũy tre xanh, những hàng rớ
(vó) Tàu phơi nắng, sau một đêm miệt.mài lao động. Quảng Minh là nơi sinh ra
nhiều người hiền tài hữu ích xã hội đó là nhà dịch giả nổi tiếng trong nước và
thế giới - nhà giáo, nhà dịch giả Hoàng Hữu Đản, GS.TS Trần Nghi, PGS.TS Trần
Ngọc Vương, TS. Hoàng Kim – Một nhà chọn tạo giống cây trồng khá nổi tiếng.
Hiếm có một xã nào trong khu vực mà có địa mạo phong phú, đầy đủ sắc màu như
nơi đây. Xã có đồng bằng, sông, núi, cồn, bãi, có cầu đường sắt, có ga xe lửa.
Từ trên hòn Lòi nhìn xuống Quảng Minh như một bức tranh thủy mạc với đầy đủ gam
màu. Tháp nhà thờ Cồn Nâm, tháp nhà thờ Giáp Tam, cao chót vót, như những pháo
đài, đổ bóng xuống dòng sông. Bờ Nam xa
xa là Cao Thượng, (Cao Thạng) rồi Cao Hạ quê hương nhà thơ Nguyễn Trọng Lư ,nổi
tiếng với “Tiếng Thu” .
Sông Chày màu ngọc bích, một màu xanh độc nhất vô nhị,
ít bắt gặp ở nơi khác, ẩn chứa bí hiểm, tạo nên cảm giác tò mò, muốn chinh
phục, khám phá. Phong Nha Kẽ Bàng, với vô số hang động kì vĩ, vô số khối thạch
nhũ, tráng lệ, nguy nga và huyền ảo, như xứ bồng lai tiên cảnh. Sông luồn
lách, lúc ẩn lúc hiện, rồi vỡ òa những thác nước trắng xóa như tóc tiên.
Sông Nan, xuất phát từ rừng núi xã Cao Quảng (Cao
Mại). Sông Nan ban đầu là những mạch suối nhỏ, rồi hợp thành sông, sông chảy về
xuôi, qua rừng núi hoang sơ, làng Cao Quảng Tuyên Hóa, qua xóm Chay, Thọ Linh,
(Quảng Sơn), Minh Lệ (Quảng Minh) rồi giao thoa dòng nước sông Son ở ngã ba Chợ
Mới.
Như một đứa con út, hiếu thảo nghĩa
tình với cha, mẹ. Sông Nan lặng lẽ trôi, từ bao giờ vẫn thế. Không tráng lệ,
hùng vĩ như sông Son với Phong Nha – Kẻ Bàng, thu hút khách du lịch. Không cung
cấp nhiều gỗ quý và đỏ ngầu phù sa như sông nậy. Sông Nan - con sông dài chừng
trên dưới 20 chục cây số tính từ thượng nguồn, nhưng đã chất chứa bao nỗi đắng
cay bi hùng của người dân quê tôi. Bến lội in dấu quan quân bốn họ Trương,
Nguyễn, Hoàng, Trần vượt sông diệt giặc. Sách vẫn còn ghi, Miếu thờ các ngài
vẫn còn đó.
Sông Nan, nơi tôi sinh ra,
lớn lên và đầy ắp tuổi thơ và kỹ niệm. Kỹ niệm tôi rơi đâu đây trên những con
đường làng vòng vèo, trên cánh đồng lúa, khoai lang, những Đồng Lòi, Cửa Eo, Sáu
Sào, Vần Vụ, Đồng Kéc, tuổi thơ tôi khi vắt vẻo trên lưng bò, khi lội bì
bỏm chăn vịt và cũng “vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng” ngóng bóng mẹ
đi chợ về, ngóng mẹ đi chặt củi, bứt lá qua sông. Quà là những chùm hồng rừng
rưng rưng chín đỏ, chùm vang vang đen tím, chùm mao anh ánh vàng cam. Tuổi
thơ tôi rơi trên đường tới trường cấp 3 NQT (Quảng Thủy), những bạn bè nghèo
khổ hồn nhiên và loạn lạc bởi chiến tranh.
Thuở nhỏ chăn bò, đói: ta ăn trái bần,
trái cán ven sông, nóng ta nhảy ùm xuống sông tắm mát. Ta qua sông chặt cây
trâm rừng về làm hầm tránh bom, đạn Mỹ, chặt cây đòn tay về làm chuồng bò,
chuồng lợn, chặt củi khô về để chụm, củi tươi về tích trữ, bứt rènh rènh về bán
người ta làm chổi. Ngày ta sống bên sông, lam lủ cùng sông, Đêm sông ru ta ngủ
bằng tiếng gõ reo của dân vạn chài, tiếng hò ơ vút lên thinh không của người
dân xóm rú, tiếng con mển rừng lạc mẹ, kêu tác tác vọng qua sông. Những
đêm trăng sáng mênh mang/ dòng sông ánh vàng lấp lóa/ hồn nhiên những con sóng
nhỏ/ vổ về tí tách ven bờ.
Thượng nguồn sông Nan có đập nước
(đập Rào Nan) nơi cung cấp nước ngọt nuôi sống cánh đồng 9 xã vùng nam Quảng
Trạch (nay là vùng nam thị xã Ba Đồn) . Người dân Vùng Nam QT vẫn mang nặng ơn
đức của Bác Nguyễn Tư Thoan Nguyên BT tỉnh ủy QB trước năm 1975. Người đã có
công lớn xây đập thủy lợi Rào Nan, giúp dân thoát nghèo đói.