Thứ Tư, 11 tháng 4, 2018

BẠN BÈ


          Q là người thuộc thế hệ 8x, người to, cao nặng dễ hơn tám mươi ký. Được cha mẹ cho ăn học đến nơi đến chốn, bây giờ nó đã là một thạc sỹ nhiều triển vọng trong cơ quan. Việc làm Khoa học của nó thì hết chê, việc gì cũng lăn xả vào cứ như sợ người khác tranh mất phần í. Hết việc cơ quan, về nhà, sau khi lót dạ mấy chén cơm là nó lại lao vào phòng dán mắt vào màn hình. Công việc của nó nào là viết đề cương, nào là chỉnh sửa báo cáo, nào là gửi email cho các đối tác.. cứ gọi là bộn bề, ấy thế nhưng nó cứ cắm đầu cắm cổ làm, làm xong mới thôi.
Vợ nó người đàn bà một con, sau khi cơm nước, rửa ráy chén bát, dụ khị con ngủ, việc còn lại của Thị chỉ là chờ nó ban phát tí ân sũng.
Mọi cái ở con người nó đều hoàn hảo, trừ  có một cái khuyết tật đó là nói quá nhanh. Hằng ngày mình thường ngồi uống trà với nó, nhiều lúc nó nói gì mình cũng không hiểu nổi. Thường mình chỉ gật gật, chứ biết nó nói gì thì chết liền.
Một lần có cuộc hội thảo ở Tây Nguyên, nó là trưởng Bộ môn và Chủ nhiệm đề tài, nó phải lên thuyết trình, hôm đó có xếp x cùng đi. Để có buổi hội thảo này nó phải thức đêm cả mấy tháng, chỉ tội cho vợ nó.
Đúng tám giờ, nó cầm bút lade, áo quần gọn gàng, phong thái nhanh nhẹn, tiến thẳng lên bục. Ngồi dưới, ngoài các vị đại diện lãnh đạo phòng, ban, trạm của huyện, tỉnh còn có nông dân, toàn người dân tộc Stiêng, nhưng họ rất thạo tiếng Việt.  Nó biết khuyết tật nói nhanh, nên hôm đó nó phải giảm tối đa tốc độ, tăng mức độ âm sắc. Slide đã chuẩn bị sẵn, vừa chiếu vừa thuyết trình, cả căn phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng nó sang sảng, tiếng con muổi đực vổ cánh bay đi tìm bạn tình. Mọi người chăm chú nhìn nó như chiêm ngưỡng một ngôi sao màn bạc đang tỏa sáng lung linh giữa núi rừng đại ngàn Tây Nguyên ấy. Cứ thế cho đến khi kết thúc. Nó khoan khoái cầm li nước lọc hớp một ngụm, tận hưởng cái niềm vui của anh nông dân vừa cày xong thửa ruộng, cảm ơn mọi người đã chú ý lắng nghe. Nó biết chắc chắn là buổi hội thảo đã suôn sẽ và thành công, nhưng nó cũng hỏi một câu chiếu lệ: tôi trình bày vậy các cô, các bác có nghe rõ không ạ? có gì cần hỏi lại không ạ? im lặng một vài giây rồi có tiếng trả lời: chúng tôi nghe rõ ạ. Thế các bác đã nắm bắt được các ý tôi trình bày hôm nay không ạ? Chúng tôi nghe rõ, nhưng cán bộ nói gì chúng tôi không hiểu ạ, già làng ĐiểuSuc trả lời. Cán bộ nói chỉ nghe vui cái tai thôi mà, cứ như nước cái suối chảy, như cái chim rừng hót ấy mà, chúng tôi làm sao hiểu được. Biết bụng cán bộ tốt, tốt lắm, nhưng chúng tôi không hiểu được đâu.
 Báo hại, xếp X phải lên thuyết trình lại, cuộc hội thảo phải 2 giờ chiều mới xong.


NGÀY TẢO MỘ
Theo tập tục làng tôi, cứ vào ngày mồng một tháng chạp hàng năm là ngày bắt đầu cho tháng tảo mộ, ở quê gọi là xủi mả. “Mồng một xủi mả làng mồng hai xủi mả họ..”
Một công việc mà con cháu trong dòng tộc muốn thể hiện lòng tôn kính với tổ tiên ông bà cha mẹ của mình, bằng việc sửa sang mồ mả tươm tất, sạch sẻ cho tổ tiên, ông bà trước tết nguyên đán. Bởi vậy, ngày này là ngày rất quan trọng với các dòng họ trong làng, những kẻ tha phương cầu thực như chúng tôi dù quan hay lính, giàu có hay nghèo hèn… ở Sài Gòn, Hà Nội, Hay Huế, Đà Nẵng, ….đều cố gắng thu xếp cho mình một chuyến xe tàu sao cho kịp ngày xủi mả này.
          Làng tôi chỉ có bốn họ: Trương, Nguyễn, Hoàng, Trần trải qua mấy trăm năm, bao thăng trầm lịch sử cả bốn họ đều cùng đồng hành với dân tộc cùng hưng thịnh, hiền hòa, cùng nhau xây dựng, bảo vệ quê hương. Dựng vợ gả chồng  phần nhiều là trong bốn họ với nhau, bởi vậy cứ ra đường gặp nhau là bà con, không xa thì gần.
Thuở xưa, khi chúng tôi còn nhỏ, cứ hằng mong đợi đến tháng này, ngày này – ngày xủi mả làng. Sáng tinh mơ trong cái rét căm căm với gió bấc và mưa phùn từng đoàn người, rồng rắn, áo mưa vác cuốc, gồm đàn ông, thanh niên và lũ con nít chúng tôi được cho đi theo để còn biết mồ mả tổ tiên, ông bà. Hồi trước khi tiền nhân đã khuất, việc đầu tiên con cháu trong nhà là tìm thầy Mo hay, chọn cho chổ đất tốt có thể thành “mộ kết”, nghĩa là để cho con cháu ăn nên làm ra, gia đình rường rạt. Bởi vậy  mồ mả  chôn cất khá lộn xộn, rải rác khắp cánh đồng. Tôi được bố cho đi theo, nhập đoàn với các bác, chú anh em con cháu dòng tộc họ nguyễn. Bác S là gia trưởng họ, luôn tiên phong đi đầu. Ngôi mộ đầu tiên mà chúng tôi tu sửa là một ngôi mộ rất to đường kính chừng hai chục mét, nằm ngay trên hòn Lòi, bác sính giới thiệu: Đây là ngôi mộ Tổ T. Trong tộc họ nguyễn có tới năm cụ tổ: tổ Đ, tổ C, tổ H và tổ T. Các tổ sinh ra con cháu ở nơi nào, bao nhiêu người, ai là gia trưởng. .. Còn tổ T là người có sáu người con: hai gái,bốn trai và ông cố nội chúng ta con trai đầu, … Chúng tôi vừa xủi cỏ, xúc đất đắp mộ vừa nghe bác giảng giải về tôn ti trật tự và mối quan hệ họ hàng, từ đó mới biết được ra đường chào hỏi như thế nào cho phải phép. Trong hết buổi sáng chúng tôi phải đi hết tất các ngôi mộ các tổ dòng họ nguyễn, các ngôi mộ đã được tu sửa ngăn nắp, sạch sẽ.
Buổi chiều khi tiếng trống nhà thờ họ vừa cất lên, là khi bà con trong tộc họ đông đủ, trên bàn thờ khói nhang nghi ngút đượm hương trầm thơm ấm cúng, các mâm xôi đầy ụ có dĩa thịt lợn, hoặc trứng chiên vàng ươm rất đẹp được đặt lên . Bác S gia trưởng thắp bó hương to, chia đếu cho các nánh cùng lầm rầm khấn và vái lạy. Chừng nửa tiếng sau, việc cúng kiếng các cụ tổ đã xong. Những chiếc chiếu hoa được rải ra, các cụ sẽ được dọn riêng một mâm xôi, trên đó đặc biệt là có một đến hai cút rượu, tùy theo hầu bao của mỗi năm. Riêng bọn trẻ con sẽ được chia phần xôi, mỗi nắm xôi có khi to bằng hai bàn tay úp  kèm thêm một miếng thịt lợn, hoặc miếng trứng. Ôi! trong cái rét lạnh cắt da, bụng đói hiu, có được chút lộc của tổ tiên ban phát, quả không hạnh phúc gì bằng.
Ngày nay mồ mả tổ tiên đã quy tụ về những nơi cố định và đã xây thành khu lăng mộ, kinh tế thôn quê đã khá giả hơn xưa, cái đói không còn hành hạ con người nữa. Quê hương rất nhiều nhà ngói đỏ, đó đây mọc lên nhà lầu, nhà mái bằng.
Việc cưới xin, giổ chạp đã hoành tráng hơn. Việc xủi mả làng (ngày 1 tháng chạp) hàng năm, những người chức tước, giàu có từ Sài Gòn đến Hà Nội, đều tụ về gần đông đủ. Đi xủi mả, đến để quét tước, sơn sửa lại chổ tường bị bong.. Những vị tiền nhân như bố tôi, bác S đã về với ông bà. Họ nói chuyện với nhau, nặng mùi tiền của, địa vị, xong rồi là về nhà thờ họ, gặp người họ hàng chỉ chào hỏi qua loa, cho có lệ, cũng chẵng cần nhớ gốc tích họ hàng là gì. Không phải toàn bộ mọi người là như vậy, nhưng cái vị đắng đót bạc tiền đâu đó đã len lỏi vào tập quán thôn quê
Trong số những người bà con dòng họ, tôi vẫn kính phục các con trai của bác Ng lập nghiệp ở Hà Nội. Các anh ấy học hành đến nơi đến chốn, có địa vị cao trong xã hội, như anh M là PGS TS viện trưởng một viện X trong lĩnh vực khoa học xã hội, các anh khác là giám đốc những công ty lớn, nhưng các anh ấy rất khiêm tốn. Dù ở xa quê nhưng các anh ấy vẫn luôn có trách nhiệm với gia đình từ giổ chạp đến xủi mả “cố, tổ”, bận việc thì cho con cái về, nếu không bận thì các anh ấy đều về tham gia đầy đủ với việc ông bà.
          Cũng như nhiều phong tục tập quán khác, xủi mả làng là một tập quán tốt đẹp, một sự kiện trọng đại của làng tôi. Đây là công việc hàng năm thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nhớ ơn tổ tiên. Nhờ có Người mới có ông bà, cha mẹ và mới có mình hôm nay. “cây có cội, nước có nguồn”. Nên, hỡi người tha hương, phiêu bạt, ngày xủi mả làng cố gắng có thể về được, nếu không thể, hãy vái vọng về quê và nhớ đến ngày trọng đại này. Nhớ đến nắm xôi vắt, mà tổ tiên, ông bà ban lộc cho ta trong ngày rét giá.



BẠN BÈ

Thành là một nhà khoa học chính thống, hoạt bát nhanh nhẹn, việc gì cũng làm được cả. Nó làm ngô năng suất cao vút tận 12 tấn trên héc đấy (tất nhiên là trên báo cáo chứ thực tế mình đâu biết ruộng ngô nó làm ở đâu).
Năm 2017 nó được đi nước ngoài làm đề tài của ông X- Nguyên lãnh đạo viện Y, làm khoa học mà được đi làm chuyên gia là nhất rồi. Khi về mình hỏi làm đề tài thế nào, nó nói sang chỉ nằm chơi dài dài cho đến khi gần về nước mới làm một cái khảo nghiệm, gieo xong chưa kịp mọc là đã về.
Còn chuyện em út thì nó cười xới lới rồi nói: ngon lắm, dễ lắm, cứ có 10 đô là dắt nhau về thời nguyên thủy được. Nó bốc phét vậy chứ không biết có được xơ múi gì không. Nó đưa cho mình xem mấy tấm hình, có đứa da nâu mặt bự, có em da trắng nõn chân dài, lại có đứa đang tréo ngoe chân với nó y như con nít chơi trò gà chọi ấy.
Đi một năm về, cái ghế gổ keo lai, không ai bảo quản bị mối nó ăn mất. Giờ nó ngồi tòong teng trên cái ghế nhựa tái sinh.
Ở nhà, nó chỉ là đứa đẹp trai thứ ba (khoản này nhà mình không có đối thủ), vợ nó là người Sơn La cùng quê với mình. Trong nhóm bạn bè thì đứa nào cũng nể vợ cả. Nhưng mình thi nể nó ở cái khoản hể cứ ngày mồng tám tháng ba, hoặc ngày sinh nhật vợ là dù bận cỡ nào nó cũng có một bó hoa tươi thắm run run hai tay tặng vợ.
Vợ nó là một người đàn bà rất ngoan hiền, nó nạt nộ cỡ nào thì Thị cũng luôn vui vẽ. Một lần nó lĩnh đâu được ba chục triệu tiền đề tài, hấp tấp về nhà vừa gặp vợ, nó quát: cất tiền đi, còn đứng đực ra đó à. Vợ nó lẳng lặng cất liền. Nó còn quát: ngồi lên ghế lấy điện thoại ra lướt game, để ta còn lau nhà chứ, vợ nó ngoan ngoản chấp hành không một phản ứng. Cứ như thế đụng đến việc gì nó cũng quát tháo ầm ỉ, nào là giặt giũ phải để cho anh, còn chén bát nữa, tránh xa ra chục mét cho người ta rửa, vợ nó chỉ nhoẻn miệng cười. Ôi! Đàn bà, sao có người nào mà hiền zậy hông biết? Việc mình nể nó nhất là việc đi chợ, ngày thường nó vẫn cấm không cho vợ nó được bén mảng tới chợ. Nhưng ngày tết dù gì đi nữa thì cũng là vợ mình, nó xổ lồng cho vợ đi theo kẻo tội. Nó chở vợ tới nơi, gửi xe rồi xách làn đi sát vợ, cứ như công an giám sát tội phạm ấy (tội nghiệp cho vợ nó quá xá), ngày tết vợ nó mua sắm đủ thứ từ cái nhỏ đến cái lớn, đàn bà mà, mua sắm cái gì cũng mặc cả ỉ ôi, nó bắt vợ nó đội cái nón rộng vành, nó có quyền không đội một cái gì cả, giữa trời nắng chang chang cứ xách làn theo sát vợ hết hàng này tới hàng khác, đến khi mua xong thì nó mới xách cái làn nặng trịch đến bãi lấy xe.
Thỉnh thoảng nó cũng tham gia nhậu nhẹt với bạn bè, một lần nhậu say về nhà, mọi người đều lo cho vợ nó quá.
Hôm sau hỏi, nó cười khì, nó bảo hôm qua nhậu về, vợ tao phải quỳ xuống nói chuyện với tao, mà tao không thèm ra nói lại đấy. Té ra khi về tới cửa nhà, vợ nó vừa mở cửa, trong tranh tối tranh sáng nó lao nhanh vào trong nhà rồi chui tọt xuống gầm giường, chi tiết vợ nó quỳ xuống là có thật, quỳ xuống để lôi nó ra, (chỉ sợ mất chổ nằm của con chó cún) nhưng kéo ra thì nó lại chui vô lại. Hết biết hehe..




LÀM KHOA HỌC KIỂU VIỆT NAM


Làm khoa học kiểu của người An Nam hiện nay đang làm thì có đến thế kỷ 25 cũng vẩn là một nước tụt lùi và lạc hậu.
 Trong trả lời phỏng vấn trước quốc hội, ông Chu Ngọc Anh – Bộ KHCN, khi được hỏi “có thông tin nhiều đề tài, dự án KH sau khi báo cáo xong sẽ được xữ lí bằng thuốc chống mối, mọt rồi bỏ vào tủ sắt khóa kỷ mãi mãi không ứng dụng, đề nghị bộ trưởng cho biết đúng, hay sai?”. Tôi thấy sau khi trả lời vòng vèo tam quốc, bác ấy muốn nói là không phải không ứng dụng mà là chậm ứng dụng (?)…
Qua tìm hiều tôi thấy, ở nước ngoài các đề tài, dự án nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, người ta đặt hàng nghiên cứu, thanh toán tiền theo tiến độ và kết quả công việc. Vấn đề ở chổ là đấy là tiền túi họ bỏ ra nên những ứng dụng thành tựu KH phải đúng ý đồ và mang lại hiệu quả thực thụ.
Ở VN các cơ quan NCKH là quản lí nhà nước, đối tượng phục vụ nghiên cứu (các địa phương) cũng là tập thể và nhà nước, làm khoa học theo chỉ đạo nghị quyết, tiền là tiền nhà nước (tiền thuế dân). Kiểm tra giám sát theo kiểu "vừa đá bóng, vừa thổi còi",làm khoa học chỉ như một hình thức trả bài, làm sao đề tài, dự án mình thông suốt để thanh quyết toán được, chứ không quan tâm đến hiệu quả thực tế, tính bền vững của đề tài dự án mang lại cho nhân dân. Đây là thứ NCKH quan liêu, bao cấp, làm NCKH chủ yếu là chạy đề tài dự án và sau là chạy chứng từ để thanh toán được đề tài dự án của mính.
Tôi rất hiểu cái quy trình vận hành cỗ máy Khoa học Việt Nam. Hàng năm, hoặc có dịp thuận lợi là giám đốc hoặc cán bộ đầu nghành, chủ nhiệm đề tài, lại có khoản gọi là chi phí quan hệ (lớn hay nhỏ tùy ĐTDA) để tìm kiếm ĐTDA hoặc trực tiếp với bộ gọi là đề tài cấp bộ, hoặc làm một nhánh cho một viện hay trung tâm nào đó, gọi là đề tài nhánh, hoặc xuống các địa phương (họ cũng có một ngân quỹ cho NCKH đang cần giải ngân), đây là một sự mặc cã trong chung chi.
NCKH là cái cần câu để kiếm tiến mà muốn kiếm được nhiều tiền thì phải có chức, danh. Muốn có chức trước tiên phải chạy danh: học vị, học hàm. Nếu như chỉ vì khoa học thì đây là tín hiệu tốt cho xã hội. Nhưng mục đích ở đây là vì chức, vì quyền, vì tiền nên thật méo mó, các nhà KH mang dáng dấp của một “Xuân tóc đỏ”. Có tiền sẽ có bằng tiến sỹ, có học hàm gs, pgs cất nhắc ở những vị trí quản lí quan trọng và sau đó là thu tiền để bù đắp cho phần chi phí bỏ ra, sắm tậu nhà, tích lủy ngoại tệ chạy chức quyền cao hơn..
 Bởi vậy mới có nhiều lò ấp TS kiểu “học viện khoa học xã hội”. Thật đáng buồn TS VN bảo vệ những đề tài chỉ ngang ngang với đề tài đại học, phủ một lớp men mỏng lý thuyết hàn lâm cho sang, phần tiếng Anh thì thuê người dịch, mang tấm bằng trên tay mà nửa chữ tiếng Anh trong đầu không có.
Tôi nhớ một câu chuyện hài của nhà văn Liên Xô (thuở bé tôi đã đọc). Chuyện kể có một lãnh đạo nọ tới thăm một trường đại học, trước tập thể nhà trường ông ấy nói: cái sân vận động của nhà trường nó quan trọng như cái sừng con dê cái vậy.. Một anh chàng láu cá đã nhân cơ hội này vớ lấy lời vàng ngọc làm đề tài luận án TS, tên đề tài là “mối quan hệ biện chứng giữa sân vận động và sừng con dê cái”.
Làm NCKH chỉ để phục vụ đường lối chính sách. Ví dụ như trong nông nghiệp đề tài “ chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh duyên hải tây nam bộ (Bạc Liêu, Cà Mau..). Thực tế, các tỉnh này có ảnh hưởng do nước mặn xâm thực thật, việc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng (VNCT) là đúng. Việc chọn VNCT phải xuất phát từ thực tế của dân. Nhưng không, tỉnh sẽ đưa vào nghị quyết, rôi sẽ có một buổi gọi là đấu thầu đề tài, đơn vị trúng thầu họ chỉ chuyên trồng cây trồng cạn như: ngô, đậu,sắn.. khi đưa các cây này xuống thì làm sao hợp được thổ nhưỡng, khí hậu, nguồn nước. Kiếm được một miếng ruộng làm mô hình đã là khó khăn huống hồ gì phát triển mô hình rộng cả huyện, cả tỉnh. Ấy thế nhưng báo cáo khoa học vẫn trơn tru, các mô hình là hiệu quả, cần nhân rộng..thực ra LĐ tỉnh cũng muốn giải ngân, có cớ để rút tiền và có báo cáo đẹp nhà KH cũng có tý tiền, có báo cáo đẹp. Báo cáo xong là đóng thành cuốn sách dày bìa da chữ vàng, xữ lí chống mối mọt rồi cất vào tủ, chỉ có dân là không có lợi ích gì.
Nền khoa học phục vụ cuộc sống của nhân dân là rất ít, chỉ phục vụ quyền lợi một nhóm thiểu số người, nên phần nhiều nó chỉ dối trá, đánh bóng làm như đã bắt kịp thế giới, cũng nghiên cứu nano, lai tạo giống mới, giống biến đổi gen, dùng phóng xạ gây đột biến gen, dùmg Marker chỉ định phân tử, xã hội thì chính phủ điện tử, thành phố thông minh, hay gần đây cứ mở tv là người ta nói ra rả về thời đại công nghiệp 4.0….. hình như người ta xem như là mốt thời thượng, xài cho nó sang để đở tủi thân với thiên hạ, nhưng họ không thấy nhục khi có 24 ngàn tiến sỹ nhưng chưa làm ra được một sản phẩm nào cụ thể. Trong nông nghiệp chẵng có một giống nào để cạnh tranh được với giống ngoại, chỉ trên báo cáo là tuyệt vời. Có một ông viện trưởng một viện lớn Nông nghiệp B, đi đâu cũng chỉ có một bài giảng "Dùng maker chỉ định phân tử trong chọn tạo giống, giảng với cán bộ kỹ thuật thuộc quyền quản lý thì vì nể nên phải ngồi nghe chứ giảng với nông dân thì ND họ biết maker là cái gì? họ chỉ biết giống nào chất lượng tốt, năng suất cao... thôi, zậy mà lão ta vẫn cứ giảng được. Tài!  Nông dân ngồi nghe lại càng đáng nể 
Người ta hô hào kho học bền vững, nhưng thực sự thì không bền vững tý nào, chúng ta lạm dụng lòng tốt của đất, đối xử bất công bằng với đất, bức tử đất, khi mà thuốc trừ sâu, trừ cỏ sử dụng vô tội vạ, tiêu diệt hết các côn trùng, thiên địch, vi sinh vật có lợi. Đất thì chai, không còn kết cấu. Việc bức thiết là phải trả lại cho đất một lượng hữu cơ tương ứng lượng đã mất đi, hạn chế và sử dụng hợp lí liều lượng thuốc BVTV, thì ít người nghiên cứu, khuyến cáo và thực hiện bền vững.
Thực ra lổi không phải của các nhà khoa học, mà lỗi ở đây là cơ chế quản lý. Cách đây vài năm người ta nói rằng sẽ thực hiện NĐ 115 là NĐ xóa bỏ cơ chế bao cấp, cho các nhà NC lấy sản phẩm để tự nuôi mình, điều này hoàn toàn hợp lí, với điều kiện có một hành lang pháp lí, có luật cụ thể, ví dụ như họ sẽ có bản quyền cho kết quả nghiên cứu, ai sử dụng sẽ trả giá cao xứng đáng công sức của họ, họ có quyền khiếu kiện và pháp luật sẽ bảo vệ họ khi ai đó xâm phạm…
Nếu thực hiện NĐ 115 thì công việc KH sẽ gắn chặt được với sản phẫm KH. Nhà nước có lợi, nhà KH có lợi và quan trọng là dân sẽ có lợi.