Thứ Ba, 22 tháng 11, 2016

Sông Gianh mẹ tôi!

Sông Gianh mẹ tôi!
Cũng giống như tình cảm người dân Ấn Độ với sông Hằng. Trong trái tim tôi, sông Gianh là người mẹ Vĩ đại.
Sông Gianh đẹp nao lòng, lúc hào phóng, rộng rãi, mênh mang sông nước xanh thẵm, lúc lòng vòng, ngoằn nghoèo, eo thắt,  khúc khuỷu, thác gềnh, lúc băng qua đồng bằng thôn xóm thanh bình, lúc tựa vào trường sơn hùng vĩ, núi đá lô xô, rồi luồn lách qua các hang động kì bí, rồi xuất hiện với những thác nước tung bọt trắng xóa, như bầy trẻ chơi trò trốn tìm, đưa du khách những cung bậc cảm xúc đến tột cùng.
 Sông Gianh mang dáng vóc của một người Mẹ, bởi sông rất hiền, tần tảo và chung thủy suốt đời với rừng núi quê hương Quảng Bình (hiếm có con sông nào mà đầu nguồn cuối nguồn đều trong một tỉnh). Dáng sông uốn lượn như dải lụa mềm, xanh lam nền nã. Sông tải muôn hạt phù sa quý giá bồi đắp những cánh đồng  làng mạc ven sông từ Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch quê tôi. Thương những người dân vạn chài, không một tấc đất nương thân, Sông vồng lên thành cồn thành bãi che chở dân đen. Sông cung cấp cát cho ta xây nhà, con cá, con tôm, con cua nuôi ta khôn lớn. Thượng nguồn sông cho ta làm du lịch, nước ngọt tưới mát vườn tược và cánh đồng. Hạ nguồn ngư dân, diêm dân làm muối và nuôi trồng thủy, hải sản.
Miền Trung đất hẹp và nghèo. Như người mẹ thương con phải nhiều đường góp nhặt. Sông phải chia nhiều nhánh nhiều nguồn. Nguồn Son gọi là sông Son, nguồn Cao Mại gọi là sông Nan, nguồn Minh Hóa gọi là sông Nậy 
 Sông Nậy – Nơi xuất phát là ngã ba cửa Hác, không biết tự bao giờ đã có câu “ăn cơm cho no/chờ đò cửa Hác”. Bởi cửa Hác là một ngã ba sông rộng, nơi hợp lưu của ba sông nhỏ là sông Nan, sông Son và sông Nậy đổ về, nên đây là nơi rộng nhất của sông Gianh. Thuở chưa có cầu Quảng Hải, muốn qua Ba Đồn, người dân 9 xã vùng Nam QT, phải hoặc qua đò Phú Trịch, hoặc qua đò cửa Hác. Đò cửa Hác qua Ba Đồn rộng tới cả  cây số, nếu thuận gió thì chúng tôi được đi thuyền buồm, bằng không thì thuyền chèo bằng tay bởi hai bác lực điền dân Quảng Hòa, ngồi ê ẩm cả hơn tiếng đồ hồ, đò mới qua bến Ba Đồn, thị trấn huyện lỵ của huyện Quảng Trạch, địa danh này có từ lâu đời, nghe đâu từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh... trải qua hai chuộc chiến tranh, Ba Đồn chỉ còn một đống hoang tàn. Khi tôi lớn lên, cái ấn tượng về Ba Đồn là những con đường cấp phối, mùa hè thì bụi đỏ lừ cuộn lên khi chiếc xe tải, hay xe comaka chạy qua. Những đồi cát trắng, những ngôi nhà ngói cấp bốn của cơ quan huyện, còn nhà dân thì đang lụp xụp lắm. Có lẽ chổ văn minh nhất và cũng khác biệt so nông thôn là cái tiệm chụp hình ở góc chợ. Những nam thanh nữ tú nông thôn sang Ba Đồn, việc đầu tiên là ghé vào tiệm ảnh chụp vài kiểu, rồi muốn đi đâu thì đi, hình chụp hồi đó chỉ toàn là đen trắng, người ta có thể dùng màu xanh đỏ, tím ,vàng, tô lên, dĩ nhiên người thợ phải có chút năng khiếu về thẩm mỹ. Hồi đó Ba Đồn đã có điện, nhưng điện chỉ sử dụng thắp sáng những bóng đèn tròn thủy tinh, dân chúng chưa có quạt, tivi, tủ lạnh.. dù vậy Ba Đồn cũng dáng dấp phố thị rồi. Mãi tới khi đã học đến lớp 6 (hệ 10/10) tôi mới được sang chơi Ba Đồn. Y như nhân vật N!xau trong phim “Thượng đế cũng phải cười” , cái vật thể lạ mà tôi chú ý quan sát, là một chiếc thùng vuông xịt khói đen, gầm gừ, có bốn bánh chạy được, ấy là chiếc ô tô tải, lần đầu tiên tôi trông thấy.
Ba Đồn cũng là nơi sinh ra và lớn lên của nhà văn Nguyễn Quang Lập mà có lẽ cái tính cách con người được hun đúc bởi tình trữ tình, phóng khoáng, bạt ngàn của ngã ba sông Gianh. Rát bỏng, trắng tinh và dữ dội của cát trắng, mộc mạc, lam lủ chân chất của một vùng quê nghèo.
 Cửa Hác phảng phất dáng vẻ đẹp hào phóng của miền Tây Nam bộ, với những rặng bần, rặng mắm sum xuê cành lá, nhưng đậm sắc thái miền Trung, với màu xanh cồn cào của sóng, nước và chất mặn mòi của biển khơi. Phía bên phải là xã Quảng Văn, một dải cồn khá lớn, bao bọc quanh là sông nước. Ngoài nghề cày cấy, Quảng Văn có nghề đan mây xuất khẩu. Nghề may nón chủ yếu là phụ nữ và con nít. Con gái La Hà – Quảng Văn mặc dù nắng nóng, gió biển thổi tứ bề ấy vậy mà da trắng và đẹp nổi tiếng, siêng năng, tần tảo. Việc bán nón là công việc nặng nhọc của đàn ông, họ cũng thách giá,  mời chào, tranh giành khách, không kém cạnh các bà dân chợ. Nên mới có câu: “đàn ông La Hà/ Đàn bà Minh Lệ”. Thuở đi học cấp ba, có thầy dạy tiếng Trung Quốc, quê La Hà. Mấy đứa học trò con gái cứ nói câu đó ghẹo thầy, bị thầy cho ăn thước mét.
Chếch hướng Tây Bắc là làng Quảng Phong. Làng nằm sát ngay bờ sông, nên hứng đủ sự cuồng phong của bão tố, sự giận hờn của sông Gianh. Làng thông thống bốn bề gió hú, y như tên gọi. Quảng Phong bây giờ đã là một phường của thị xã BĐ, nhà cửa khang trang quy cũ
Phần hạ lưu, sông Nậy rất rộng và mênh mông xanh thẵm, ngoại trừ tháng 8 – tháng 11, sông cuồn cuộn, sùng sục màu phù sa đỏ ối, gỗ và cây củi mục trôi về. Ngược lên thượng nguồn, sông Nậy đi qua các xã Quảng Phong, Quảng Lộc, Quảng Hải, Quảng Tân, Quảng Trung, Quảng Thanh, …..thuộc huyện Quảng Trạch., với các cồn lớn là cồn Sẽ, cồn Quảng Hải. Lên đến Tuyên Hóa sông Nậy co thắt, hẹp dần nhưng phong cảnh thì y như xứ bồng lai, tiên cảnh vậy. Bởi những lèn đá vôi dựng đứng hoặc đơn độc, hoặc như búc trường thành, làm cho ta cảm giác gai gai, choáng ngợp, như nó sắp đổ ập xuống dòng sông, rồi đột ngột sông rẽ ngoặt qua những làng quê yên ả, những bãi ngô, ruộng lúa xanh rì, Những xã Phù Hoá, Tiến Hoá, Cảnh Hoá, Văn Hoá, Quảng Tiên,Quảng Liên, có nghề xúc Chắt Chắt, một loại nhuyễn thể thân nhỏ chỉ bằng móng tay út sống ở vùng nước lợ. Tôi rất thích cách viết, và miêu tả sự hình thành huyền thoại của loài vật nhỏ bé nhưng sống có ích, có nghĩa này của Nhà văn Nguyễn Quang Lập Trong bài “uống rượu Ba Đồn với bánh tráng nướng cùng chắt chắt”, anh viết “Hàng năm, vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về mang trong mình vóc dáng mạnh mẽ, trai tráng như đàn ông, đến nơi đây, tại vùng sông thuộc xã Phù Hoá này, dòng nước trai tráng ấy chồm lên làn nước lợ mảnh mai yếu ớt như nữ nhi từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của dòng sông, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu những sợi tơ bé nhỏ, trong suốt, giăng dít dưới đáy sông như là sự thai nghén tự nhiên sau cuộc tình hai làn nước và chỉ sau đó ít lâu, không quá một mùa trăng, những sợi tơ ấy chuyển hoá thành những con hến bé tí, nằm phủ dày dưới đáy sông, tạo nên một lớp Chắt Chắt và mời gọi dân trong vùng vào mùa thu hoạch”.
Vâng! cũng xin khẳng định: chắt chắt là một báu vật, một “lộc trời” mà chỉ riêng sông Gianh Quảng Bình mới có.
 Chắt chắt ở Quảng Bình không giống như nhiều loại hến hàu… ở nơi khác, chắt chắt Quảng Bình là nhuyễn thể rất sạch, chỉ sống ở cát  thượng nguồn, nơi giao thoa của nước mặn và nước ngọt, không ô nhiễm kim loại nặng, hay các hóa chất độc hại khác. Thịt chắt chắt thơm, ngọt lừ, xào lên xúc bánh tráng, thì cứ gọi là thiên đường chính ở đây!
Sông Son là một nhánh sông song sinh cùng Sông Nan, điểm xuất phát là ngã ba Chợ Mới, thuộc xã Quảng Minh, cảnh vật ven sông thật ngọan mục và tráng lệ, thanh bình soi bóng những lũy tre xanh, những hàng rớ (vó) Tàu phơi nắng, sau một đêm miệt.mài lao động. Quảng Minh là nơi sinh ra nhiều người hiền tài hữu ích xã hội đó là nhà dịch giả nổi tiếng trong nước và thế giới - nhà giáo, nhà dịch giả Hoàng Hữu Đản, GS.TS Trần Nghi, PGS.TS Trần Ngọc Vương, TS. Hoàng Kim – Một nhà chọn tạo giống cây trồng khá nổi tiếng. Hiếm có một xã nào trong khu vực mà có địa mạo phong phú, đầy đủ sắc màu như nơi đây. Xã có đồng bằng, sông, núi, cồn, bãi, có cầu đường sắt, có ga xe lửa. Từ trên hòn Lòi nhìn xuống Quảng Minh như một bức tranh thủy mạc với đầy đủ gam màu. Tháp nhà thờ Cồn Nâm, tháp nhà thờ Giáp Tam, cao chót vót, như những pháo đài, đổ bóng xuống dòng sông. Bờ Nam xa xa là Cao Thượng, (Cao Thạng) rồi Cao Hạ quê hương nhà thơ Nguyễn Trọng Lư ,nổi tiếng với “Tiếng Thu” .
Càng tiến gần về  Phong Nha, lòng sông càng hẹp, càng hiểm trở. Như một con rồng nhỏ, sông Son ngoằn nghoèo uốn lượn qua các bãi ngô của Ngân Sơn, Khu Bị, Khương Hà, Tróoc, Chày, Phong Nha – Kẽ Bàng đan xen rừng núi chập chùng và làng mạc miền Sơn cước của huyện Bố trạch. Lần đầu tiên đến Phong Nha – Kẽ Bàng, tôi thật sự choáng ngợp với sự hùng vĩ, tráng lệ của núi sông, với từng dãy núi đá vôi lô nhô, màu xanh cây rừng đan xen màu xám đá vôi, đi vào sâu rừng càng rậm rạp xanh ngút.
Sông Chày màu ngọc bích, một màu xanh độc nhất vô nhị, ít bắt gặp ở nơi khác, ẩn chứa bí hiểm, tạo nên cảm giác tò mò, muốn chinh phục, khám phá. Phong Nha Kẽ Bàng, với vô số hang động kì vĩ, vô số khối thạch nhũ, tráng lệ, nguy nga và huyền ảo, như xứ bồng lai tiên cảnh. Sông luồn lách, lúc ẩn lúc hiện, rồi vỡ òa những thác nước trắng xóa như tóc tiên.
Sông Nan, xuất phát từ rừng núi xã Cao Quảng (Cao Mại). Sông Nan ban đầu là những mạch suối nhỏ, rồi hợp thành sông, sông chảy về xuôi, qua rừng núi hoang sơ, làng Cao Quảng Tuyên Hóa, qua xóm Chay, Thọ Linh, (Quảng Sơn), Minh Lệ (Quảng Minh) rồi giao thoa dòng nước sông Son ở ngã ba Chợ Mới.
 Như một đứa con út, hiếu thảo nghĩa tình với cha, mẹ. Sông Nan lặng lẽ trôi, từ bao giờ vẫn thế. Không tráng lệ, hùng vĩ như sông Son với Phong Nha – Kẻ Bàng, thu hút khách du lịch. Không cung cấp nhiều gỗ quý và đỏ ngầu phù sa như sông nậy. Sông Nan - con sông dài chừng trên dưới 20 chục cây số tính từ thượng nguồn, nhưng đã chất chứa bao nỗi đắng cay bi hùng của người dân quê tôi. Bến lội in dấu quan quân bốn họ Trương, Nguyễn, Hoàng, Trần vượt sông diệt giặc. Sách vẫn còn ghi, Miếu thờ các ngài vẫn còn đó. 
   Sông Nan, nơi tôi sinh ra, lớn lên và đầy ắp tuổi thơ và kỹ niệm. Kỹ niệm tôi rơi đâu đây trên những con đường làng vòng vèo, trên cánh đồng lúa, khoai lang, những Đồng Lòi, Cửa Eo, Sáu Sào, Vần Vụ, Đồng Kéc, tuổi thơ tôi khi vắt vẻo trên lưng bò, khi lội bì bỏm chăn vịt và cũng “vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng” ngóng bóng mẹ đi chợ về, ngóng mẹ đi chặt củi, bứt lá qua sông. Quà là những chùm hồng rừng rưng rưng chín đỏ, chùm vang vang đen tím, chùm mao anh ánh vàng cam. Tuổi thơ tôi rơi trên đường tới trường cấp 3 NQT (Quảng Thủy), những bạn bè nghèo khổ hồn nhiên và loạn lạc bởi chiến tranh.
Thuở nhỏ chăn bò, đói: ta ăn trái bần, trái cán ven sông, nóng ta nhảy ùm xuống sông tắm mát. Ta qua sông chặt cây trâm rừng về làm hầm tránh bom, đạn Mỹ, chặt cây đòn tay về làm chuồng bò, chuồng lợn, chặt củi khô về để chụm, củi tươi về tích trữ, bứt rènh rènh về bán người ta làm chổi. Ngày ta sống bên sông, lam lủ cùng sông, Đêm sông ru ta ngủ bằng tiếng gõ reo của dân vạn chài, tiếng hò ơ vút lên thinh không của người dân xóm rú, tiếng con mển rừng lạc mẹ, kêu tác tác vọng qua sông. Những đêm trăng sáng mênh mang/ dòng sông ánh vàng lấp lóa/ hồn nhiên những con sóng nhỏ/ vổ về tí tách ven bờ.
  Thượng nguồn sông Nan có đập nước (đập Rào Nan) nơi cung cấp nước ngọt nuôi sống cánh đồng 9 xã vùng nam Quảng Trạch (nay là vùng nam thị xã Ba Đồn) . Người dân Vùng Nam QT vẫn mang nặng ơn đức của Bác Nguyễn Tư Thoan Nguyên BT tỉnh ủy QB trước năm 1975. Người đã có công lớn xây đập thủy lợi Rào Nan, giúp dân thoát nghèo đói.


MỪNG ÔNG NGHÈ MỚI ĐỖ


Anh mừng cho chú đỗ ông Nghè, 
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe. 
Ân tứ
 dám đâu coi rẻ rúng, 
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe. 
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh,
 
Hoãn
 đẹp nàng này khó nhẽ che. 
Hiển quí đến nay đà mới rõ, 
Rõ từ những lúc tổng chưa đe.

Vịnh tiến sỹ

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
[2],
Nét son điểm rõ mặt văn khôi
[3].
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời
[4]!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!

Nhà thơ Nguyễn Khuyến đã có bài Vịnh ông tiến sĩ giấy như vầy: “Cũng cờ cũng biển cũng cân đai/ Cũng gọi ông nghè, có kém ai/ Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng/ Nét son điểm rõ mặt văn khôi/ Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ/ Cái giá khoa danh ấy mới hời/ Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe/ Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Đó là hình tượng tiến sĩ giấy thật, có tác dụng giải trí và giáo dục trẻ em.
Hễ có chính danh thì mới định phận. Chúng ta phải gọi nhiều vị tiến sĩ ngồi lềnh khênh trong các cơ quan nhà nước hôm nay là các vị tiến sĩ giấy giả. Tiến sĩ giấy giả là các vị tiến sĩ bằng người thật; có tham vọng đạt chức danh tiến sĩ để thơm râu bổ phổi với đời; được ngồi vào một cái ghế đẹp nào đó để hưởng bổng lộc. Có thể họ chưa đậu tú tài, cử nhân hoặc đã đậu nhưng không có công trình nghiên cứu thực tế. Cũng có thể, họ không viết ra được luận văn  nào nhưng được sự xúi giục tích cực của người hướng dẫn, họ sao y bản chính hoặc xào nấu tích cực luận văn của nhiều người khác mà nên tiến sĩ.
Đại phàm, luận văn phải được bảo vệ trước hội đồng. Theo sự phân công, mấy người này đặt câu hỏi vặn lại (tục gọi là phản biện), mấy người khác đứng ra bảo vệ (tục gọi là nhất trí). Cuối cùng, mọi người nhất trí hết. Hội đồng lập biên bản, công nhận học vị tiến sĩ. Tiến sĩ giấy giả ra đời như vậy. Thương thay cho nhiều tiến sĩ giấy giả, chữ viết như cua bò, văn chương rất bì bõm, thế nhưng ghế ngồi của họ cao, quyền lực của họ lớn; chẳng ai dám nghi ngờ cái học vị của họ là giả hay thật.
Tiến sĩ giấy giả thật thông minh! Họ thường chọn những nội dung, đề tài nghiên cứu không dính dáng gì tới toán học, khoa học tự nhiên, ngoại ngữ, công nghệ máy tính cả. Bởi lẽ, chọn những thứ ấy có mà chết. Họ chọn những món mơ hồ hơn nhiều. Đại phàm, cái gì càng mơ hồ thì càng khó rờ, lại càng khó định lượng, định tính. Cho nên, họ lọt qua cánh cửa tiến sĩ một cách ngoạn mục. Vì vậy mà đội ngũ tiến sĩ giấy giả ngày càng ì xèo, đông vui, hoành tráng trong thời chúng ta.
Cắt nghĩa sự phì đại này, nhiều người nói đó là do qui luật cung cầu. Bởi thời ta cần tiến sĩ nên phải “sản xuất” hàng loạt tiến sĩ giấy giả để đáp ứng nhu cầu ấy. Địa phương nào cắc cớ đặt ra chỉ tiêu trong 5 năm nữa phải có 200 tiến sĩ thì người ta cứ thế mà đào tạo ra tiến sĩ, trong đó có nhiều tiến sĩ giấy giả. Cũng có người cho rằng tiến sĩ giấy giả chỉ có trong cơ quan nhà nước mà không có trong doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp tư nhân; ấy là vì cơ quan nhà nước khoái mác tiến sĩ nên tiến sĩ giấy giả dễ vào, dễ được “cơ cấu”. Có vị trước khi về hưu “làm phước” ký giấy bổ dụng 60 cán bộ đầu ngành; tiến sĩ giấy giả đương nhiên được ơn mưa móc. Ngược lại, doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân chuộng người thực chất có trình độ chuyên môn cao; không khoái bằng cấp và kỹ năng nói dóc nên tiến sĩ giấy giả ra rìa.
Thế nhưng trên hết, người ta vẫn cho rằng sở dĩ tình hình tiến sĩ giấy giả lềnh khênh là do cách ứng xử không kiên quyết của các cơ quan nhà nước đối với những cán bộ chơi bằng giả. Cho đến bây giờ, việc phát hiện bằng giả là khá nhiều nhưng chưa có ông chơi bằng giả nào phải ra trước cơ quan pháp luật. Thậm chí, có nơi còn hợp thức hóa chuyện dùng bằng giả bằng cách cho… học lại, thi lại, “phấn đấu” thêm. Bằng giả có thể làm chết người nhưng người chơi bằng giả thì chưa có ai chết.
Anh nọ học rất giỏi, kiến thức rất rộng, tuổi mới 45, mơ ước làm cái tiến sĩ. Anh hỏi thăm những tiến sĩ giấy giả đi trước, họ nói thật với anh phải có trên 200 triệu đồng thì mới mong làm tiến sĩ vì phải chi đủ thứ, đủ người. Anh tính lại vợ chồng mỗi tháng chỉ làm ra trên 12 triệu, nuôi 2 đứa con. Tiền đâu mà có trên 200 triệu? Bèn cụt hứng, không dám làm tiến sĩ (thật) nữa. Có người khuyên anh rằng nghèo thì chớ bao giờ bày đặt làm cái học vị tiến sĩ. Lời khuyên ấy đúng là lời vàng ngọc.

ĐỒ BÌ

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

BIẾT ƠN THẦY CÔ

Đã hơn ba mươi năm rồi, xa cách mái trường và tuổi thơ, ít có dịp gặp thầy, cô và bạn cũ. Thầy, Cô hầu hết đã nghĩ hưu, cũng nhiều người đã chia tay trần thế. Còn bạn bè? Thế hệ chúng tôi là làm trai thời loạn, từ năm học cấp 2 trở đi đã phải nếm mùi quân dịch. Từ năm học cấp 3 trở đi mõi năm bắt lính ba lần (tháng 3, tháng 5, tháng 8), lớp học của tôi ban đầu sỉ số là bốn mươi tám học sinh, cuối năm học chỉ còn hai mươi lăm đứa, ngoài con gái ra ,con trai toàn những đứa nhỏ con còi cọc.
Những dãy bàn trống vắng cứ dài ra
Tiếng nói tiếng cười thưa dần theo ngày tháng
Thầy giáo gọi trả bài, tên học sinh đi vắng.
Những bạn học đã đi, những bạn học đang chờ
Những mảnh đời không có những ước mơ
Những lứa đôi dập vùi tình yêu đẹp
Tất cã lên đường ôm súng thép
Một màu xanh rờn rợn tuổi đôi mươi
Chủ yếu là đi chiến trường Campuchia, quần nhau với giặc pol pót. Trong lớp tôi là người nhỏ tuổi và yếu gầy nhất nên mãi năm 79 – đợt tổng động viên mới nhập ngũ. Ngày chia tay lớp làm một bữa tiệc bánh kẹo, Thầy Lương Ngọc Mẹo dạy toán - giáo viên chủ nhiệm lớp tôi đã khóc, thầy nói: “ Những đứa học được đều đi cã”. Thầy là một trong những thầy giáo rất nhiệt tình, thương yêu học sinh, những đứa nào học yếu, thầy bỏ ra nhiều buổi phụ đạo ngoài giờ, đến khi hiểu bài mới thôi ( các thầy phụ đạo nhưng không lấy một đồng tiền nào của học sinh, mặc dầu đời sống của gia đình các thầy cũng rất khó khăn – lương một cọc một đồng), có một buổi trưa trời nắng, tôi và một đứa bạn vào khu tập thể đến phòng ở của thầy, nhờ thầy chỉ cho phương pháp giải một bài toán khó. Tiếng là khu tập thể nhưng đó chỉ là những dãy nhà lợp mái rạ, hoặc cỏ tranh, tường làm bằng đất bùn trộn rơm khô. Trong căn phòng nhỏ, chật chội, Thầy như vừa bơi ra từ màn khói bếp đặc quánh, nấu bằng rơm khô. Quẹt mồ hôi, Thầy bảo chúng tôi ngồi xuống ghế và bắt đầu hướng dẫn, giảng giãi,… biết thầy rất mệt chúng tôi cảm ơn và chào từ biệt thầy ra về….Giờ đã mấy mươi năm nhưng hình ảnh của thầy lúc đó, đối với tôi vẫn không hề phai nhạt.  
Xin nói thêm về trường phổ thông cấp 3 nam quảng trạch, nơi tôi đã theo đèn sách 3 năm. Trường trước đó đóng ở cao cựu xã quảng hòa (anh trai đầu của tôi học nơi đây), cho đến năm 1974 trường chuyển về xã quảng thủy. Đó là một ngôi trường rộng hơn 5 ha, với những dãy phòng học và văn phòng lợp bằng cỏ tranh hoặc bằng tóoc (rạ), tường trát bằng bùn đất. Trong khuôn viên trường có nghĩa trang liệt sỹ xã quảng thủy.
Những năm tháng đó, cuộc sống của thầy trò mặc dầu nghèo khổ, nhưng rất vui, vô tư và hồn nhiên. 
Ngày bước vào trường, chúng tôi ban đầu đang “lạ nước, lạ cái”ai nấy đều rụt rè, nhưng chưa hết học kì 1 năm lớp 8