Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2016

BIẾT ƠN THẦY CÔ

Đã hơn ba mươi năm rồi, xa cách mái trường và tuổi thơ, ít có dịp gặp thầy, cô và bạn cũ. Thầy, Cô hầu hết đã nghĩ hưu, cũng nhiều người đã chia tay trần thế. Còn bạn bè? Thế hệ chúng tôi là làm trai thời loạn, từ năm học cấp 2 trở đi đã phải nếm mùi quân dịch. Từ năm học cấp 3 trở đi mõi năm bắt lính ba lần (tháng 3, tháng 5, tháng 8), lớp học của tôi ban đầu sỉ số là bốn mươi tám học sinh, cuối năm học chỉ còn hai mươi lăm đứa, ngoài con gái ra ,con trai toàn những đứa nhỏ con còi cọc.
Những dãy bàn trống vắng cứ dài ra
Tiếng nói tiếng cười thưa dần theo ngày tháng
Thầy giáo gọi trả bài, tên học sinh đi vắng.
Những bạn học đã đi, những bạn học đang chờ
Những mảnh đời không có những ước mơ
Những lứa đôi dập vùi tình yêu đẹp
Tất cã lên đường ôm súng thép
Một màu xanh rờn rợn tuổi đôi mươi
Chủ yếu là đi chiến trường Campuchia, quần nhau với giặc pol pót. Trong lớp tôi là người nhỏ tuổi và yếu gầy nhất nên mãi năm 79 – đợt tổng động viên mới nhập ngũ. Ngày chia tay lớp làm một bữa tiệc bánh kẹo, Thầy Lương Ngọc Mẹo dạy toán - giáo viên chủ nhiệm lớp tôi đã khóc, thầy nói: “ Những đứa học được đều đi cã”. Thầy là một trong những thầy giáo rất nhiệt tình, thương yêu học sinh, những đứa nào học yếu, thầy bỏ ra nhiều buổi phụ đạo ngoài giờ, đến khi hiểu bài mới thôi ( các thầy phụ đạo nhưng không lấy một đồng tiền nào của học sinh, mặc dầu đời sống của gia đình các thầy cũng rất khó khăn – lương một cọc một đồng), có một buổi trưa trời nắng, tôi và một đứa bạn vào khu tập thể đến phòng ở của thầy, nhờ thầy chỉ cho phương pháp giải một bài toán khó. Tiếng là khu tập thể nhưng đó chỉ là những dãy nhà lợp mái rạ, hoặc cỏ tranh, tường làm bằng đất bùn trộn rơm khô. Trong căn phòng nhỏ, chật chội, Thầy như vừa bơi ra từ màn khói bếp đặc quánh, nấu bằng rơm khô. Quẹt mồ hôi, Thầy bảo chúng tôi ngồi xuống ghế và bắt đầu hướng dẫn, giảng giãi,… biết thầy rất mệt chúng tôi cảm ơn và chào từ biệt thầy ra về….Giờ đã mấy mươi năm nhưng hình ảnh của thầy lúc đó, đối với tôi vẫn không hề phai nhạt.  
Xin nói thêm về trường phổ thông cấp 3 nam quảng trạch, nơi tôi đã theo đèn sách 3 năm. Trường trước đó đóng ở cao cựu xã quảng hòa (anh trai đầu của tôi học nơi đây), cho đến năm 1974 trường chuyển về xã quảng thủy. Đó là một ngôi trường rộng hơn 5 ha, với những dãy phòng học và văn phòng lợp bằng cỏ tranh hoặc bằng tóoc (rạ), tường trát bằng bùn đất. Trong khuôn viên trường có nghĩa trang liệt sỹ xã quảng thủy.
Những năm tháng đó, cuộc sống của thầy trò mặc dầu nghèo khổ, nhưng rất vui, vô tư và hồn nhiên. 
Ngày bước vào trường, chúng tôi ban đầu đang “lạ nước, lạ cái”ai nấy đều rụt rè, nhưng chưa hết học kì 1 năm lớp 8




  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét