BIẾT ƠN THẦY CÔ
Đã hơn ba mươi năm rồi, xa
cách mái trường và tuổi thơ, ít có dịp gặp thầy, cô và bạn cũ. Thầy, Cô hầu hết
đã nghĩ hưu, cũng nhiều người đã chia tay trần thế. Còn bạn bè? Thế hệ chúng
tôi là làm trai thời loạn, từ năm học cấp 2 trở đi đã phải nếm mùi quân dịch.
Từ năm học cấp 3 trở đi mõi năm bắt lính ba lần (tháng 3, tháng 5, tháng 8),
lớp học của tôi ban đầu sỉ số là bốn mươi tám học sinh, cuối năm học chỉ còn
hai mươi lăm đứa, ngoài con gái ra ,con trai toàn những đứa nhỏ con còi cọc.
Những dãy bàn trống vắng cứ
dài ra
Tiếng nói tiếng cười thưa dần
theo ngày tháng
Thầy giáo gọi trả bài, tên
học sinh đi vắng.
Những bạn học đã đi, những
bạn học đang chờ
Những mảnh đời không có những
ước mơ
Những lứa đôi dập vùi tình
yêu đẹp
Tất cã lên đường ôm súng thép
Một màu xanh rờn rợn tuổi đôi
mươi
Chủ yếu là đi chiến trường Campuchia,
quần nhau với giặc pol pót. Trong lớp tôi là người nhỏ tuổi và yếu gầy nhất nên
mãi năm 79 – đợt tổng động viên mới nhập ngũ. Ngày chia tay lớp làm một bữa
tiệc bánh kẹo, Thầy Lương Ngọc Mẹo dạy toán - giáo viên chủ nhiệm lớp tôi đã
khóc, thầy nói: “ Những đứa học được đều đi cã”. Thầy là một trong những thầy
giáo rất nhiệt tình, thương yêu học sinh, những đứa nào học yếu, thầy bỏ ra
nhiều buổi phụ đạo ngoài giờ, đến khi hiểu bài mới thôi ( các thầy phụ đạo
nhưng không lấy một đồng tiền nào của học sinh, mặc dầu đời sống của gia đình
các thầy cũng rất khó khăn – lương một cọc một đồng), có một buổi trưa trời
nắng, tôi và một đứa bạn vào khu tập thể đến phòng ở của thầy, nhờ thầy chỉ cho
phương pháp giải một bài toán khó. Tiếng là khu tập thể nhưng đó chỉ là những
dãy nhà lợp mái rạ, hoặc cỏ tranh, tường làm bằng đất bùn trộn rơm khô. Trong
căn phòng nhỏ, chật chội, Thầy như vừa bơi ra từ màn khói bếp đặc quánh, nấu
bằng rơm khô. Quẹt mồ hôi, Thầy bảo chúng tôi ngồi xuống ghế và bắt đầu hướng
dẫn, giảng giãi,… biết thầy rất mệt chúng tôi cảm ơn và chào từ biệt thầy ra về….Giờ
đã mấy mươi năm nhưng hình ảnh của thầy lúc đó, đối với tôi vẫn không hề phai
nhạt.
Xin nói thêm về trường phổ
thông cấp 3 nam quảng trạch, nơi tôi đã theo đèn sách 3 năm. Trường trước đó
đóng ở cao cựu xã quảng hòa (anh trai đầu của tôi học nơi đây), cho đến năm
1974 trường chuyển về xã quảng thủy. Đó là một ngôi trường rộng hơn 5 ha, với
những dãy phòng học và văn phòng lợp bằng cỏ tranh hoặc bằng tóoc (rạ), tường
trát bằng bùn đất. Trong khuôn viên trường có nghĩa trang liệt sỹ xã quảng thủy.
Những năm tháng đó, cuộc sống
của thầy trò mặc dầu nghèo khổ, nhưng rất vui, vô tư và hồn nhiên.
Ngày bước vào trường, chúng
tôi ban đầu đang “lạ nước, lạ cái”ai nấy đều rụt rè, nhưng chưa hết học kì 1
năm lớp 8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét